Luis Enrique Martinez

Luis Enrique Martinez

Luis Enrique Martinez

Typography
  • Smaller Small Medium Big Bigger
  • Default Helvetica Segoe Georgia Times

Luis Enrique, hay còn được gọi bằng cái tên thân thương "Lucho" (sinh ngày 08/05/1970 tại Gijón), gia nhập FC Barcelona vào mùa hè năm 1996 theo dạng chuyển nhượng tự do sau 5 mùa giải thi đấu cho Real Madrid.

Bất chấp quá khứ gắn bó với đại kình địch Madrid, anh nhanh chóng hòa nhập với đội bóng mới và sớm trở thành một trong những ngôi sao có sức hút cá tính mãnh liệt nhất từng khoác áo FC Barcelona.

Là một thủ lĩnh bẩm sinh với tinh thần cống hiến tận tụy, Luis Enrique nhanh chóng được tin tưởng bầu làm một trong những đội trưởng của đội bóng. Phẩm chất nổi bật nhất của anh chính là sự đa năng vượt trội, đặc tính phản ánh rõ nét nhất phong cách thi đấu của anh bên cạnh vô số ưu điểm khác. Anh thường thi đấu ở vị trí hộ công ngay sau trung phong cắm, nhưng cũng sẵn sàng đảm nhận tốt hai hành lang cánh hoặc trực tiếp đá cắm khi được yêu cầu.

Luis Enrique bắt đầu chơi bóng ở Ensitosa. Thành tích tốt của anh với câu lạc bộ đã bị bỏ qua bởi HLV Asturian và đội bóng hạng nhất Oviedo, sau đó là tình yêu với Sporting Gijon. Cuối cùng anh đã chọn con đường đến Gijon.

Sự nghiệp của anh ở Sporting như sao băng. Anh đá trận ra mắt ở hạng nhất mùa giải năm 1989-1990 khi mới 19 tuổi và chỉ ít hơn một năm, anh đã trở thành phát hiện lớn của giải với 15 bàn thắng. Điều đó đã gợi sự thích thú từ Johan Cruff của Barça và Real Madrid - đội bóng cuối cùng đã ký hợp đồng với anh với giá 250 triệu peseta.

Trong 5 mùa giải khoác áo CLB thành Madrid, cầu thủ trẻ đến từ Gijon luôn được ca ngợi là tương lai của Madrid, là người kế cận xứng đáng cho Hugo Sanchez hay Ivan Zamorano. 21 tuổi, Enrique đã xuất hiện trong màu áo đội tuyển quốc gia. Nhưng tại Madrid, sự nghiệp của anh ngày càng có dấu hiệu đi xuống. Không hài lòng với cá tính mạnh mẽ đặc trưng của một thanh niên xứ Gijon, Lorenzo Sanz - chủ tịch của Real Madrid, và Jorge Valdano, người mới trở lại nắm quyền tại câu lạc bộ đã đầy ải Enrique trên băng ghế dự bị.

Không muốn chết dần chết mòn, Enrique ra đi, và anh đã quyết định thi đấu cho Barcelona. Đội bóng đã tạo ra những cơ hội thích hợp và đặt niềm tin vào anh. Với Barça, Luis Enrique tìm thấy niềm vui chơi bóng. Trên sân cỏ, anh luôn là mẫu cầu thủ thi đấu xả thân vì đội bóng. Lối chơi máu lửa, hết mình của anh truyền cảm hứng cho đồng đội. Luis Enrique dần đạt đến đỉnh cao và trở thành cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất vào thời điểm đó.

"Chiến binh" Luis Enrique

Nhưng ấn tượng lớn nhất về Luis Enrique chính là những trận Siêu Kinh Điển.

Như để buộc người Madrid ân hận vì quyết định của mình, Enrique luôn tỏa sáng trong những trận cầu kinh điển. Đến mức mà sau trận El Clasico mùa bóng 98/99 trên sân Camp Nou (Luis Enrique ghi 2 bàn trong chiến thắng 3-0), Lorenzo Sanz đã phải cay đắng thừa nhận: ''Để Enrique sang Barcelona là một trong những sai lầm lớn nhất trong đời tôi''.

Cùng với Barcelona, Enrique đã vươn tới nhiều danh hiệu cao quý trong sự nghiệp cầu thủ. Đầu tiên là dưới thời Bobby Robson, anh đã có cúp Nhà vua và cúp C2. Sau đó với Luis Van Gaal là 2 danh hiệu Liga, 1 siêu cúp Châu Âu và 1 cúp Nhà vua. Luis Enrique cũng thành công với HCV Olympic tại thế vận hội Barcelona 1992.

Luis Enrique đã ở lại và cống hiến cho Barcelona đến những ngày cuối cùng của sự nghiệp. Anh giải nghệ năm 2004, sau một thời gian liên tục gặp chấn thương. Hình ảnh một Luis Enrique dũng mãnh, người đội trưởng tận tuỵ sẽ còn được nhớ mãi trong sự luyến tiếc của các Culer.

Sau khi giải nghệ, từ năm 2008 đến 2011, Luis Enrique trở lại dẫn dắt đội Barça B. 3 năm sau, sau những khoảng thời gian cầm quân tại AS Roma và Celta Vigo, anh trở lại Camp Nou trên cương vị HLV trưởng đội một, xuất sắc mang về cú ăn 3 lịch sử ngay trong mùa giải đầu tiên cầm quân (2014/15). Anh chia tay câu lạc bộ vào năm 2017 với một bộ sưu tập danh hiệu đồ sộ: chinh phục tới 9 chiếc cúp vô địch trong tổng số 13 giải đấu tham dự.

Sự nghiệp tại Barça (1996–2004)

Số trận ra sân: 355 trận

Số bàn thắng: 123 bàn

Danh hiệu đạt được (9 danh hiệu)

1 Cúp C2 Châu Âu (UEFA Cup Winners' Cup): 1996/97

1 Siêu cúp Châu Âu (UEFA Super Cup): 1997

2 La Liga: 1997/98, 1998/99

2 Cúp Nhà vua (Copa del Rey): 1996/97, 1997/98

1 Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 1996

2 Cúp Catalonia: 1999/2000, 2003/04

Write comments...
or post as a guest
Loading comment... The comment will be refreshed after 00:00.

Be the first to comment.