Frederic Leighton là họa sĩ người Anh có ảnh hưởng rất lớn ở thời Victoria, giữ chức chủ tịch Viện hàn lâm Hoàng gia từ năm 1878 cho đến khi qua đời. Ông thường sáng tác về những chủ đề cổ điển như lịch sử và tôn giáo với phong cách hàn lâm, thể hiện tinh thần hoài cổ của thời đại. Tác phẩm tiêu biểu: Bài học nhạc (khoảng năm 1877), Cuộn len - 1878, Tháng sáu nóng như đổ lửa - 1895...
Mark Rothko là hoạ sĩ người Mỹ gốc Nga, thường được xếp vào trường phái Biểu hiện trừu tượng. Ông nổi tiếng với phong cách Trừu tượng màu sắc, thể hiện cảm xúc trầm lắng thông qua những không gian rộng lớn với những hình chữ nhật chỉ có một màu duy nhất. Càng về sau, màu sắc trong tranh của ông càng tối dần, đưa người xem đến cảm giác thiền. Tác phẩm tiêu biểu: Vô đề, Cam và nâu, 1954...
James Rosenquist (1933) là hoạ sĩ người Mỹ và là một trong những người đóng vai trò chủ đạo trong trào lưu Nghệ thuật đại chúng. Khởi nghiệp là một hoạ sĩ vẽ quảng cáo, nhiều tác phẩm của ông được gợi hứng từ các quảng cáo trên khổ tranh khổng lồ là những phân mảnh sặc sỡ và hình ảnh cắt ra từ quảng cáo mô tả các mảnh hiện thực. Tác phẩm tiêu biểu: Tổng thống sắp nhậm chức, 1960-1961; Bánh mì trắng, 1964; Miếng da che mắt ngựa, 1968-1969...
George Romney (1734-1802) là hoạ sĩ chân dung người Anh. Những bức tranh mang tính hàn lâm của ông không mấy độc đáo, chủ yếu đặc tả trang phục và cảnh quan để làm nổi bật vai vế xã hội của nhân vật; nhưng các bức chân dung trẻ em lại mang vẻ tươi mới và duyên dáng khác hẳn. Sau một thời gian sống ở Italia, ông bắt đầu sáng tác theo phong cách Tân cổ điển. Tác phẩm tiêu biểu: Jane Maxwell, nữ công tác xứ Gordon và con trai, 1778; Phu nhân Hamilton, 1782...
Antonio da Correggio (1489-1534) là hoạ sĩ Italia thời Phục hưng thịnh kì. Danh tiếng của ông gắn với hình ảnh tươi trẻ, sống động cùng những cảm xúc đơn sơ mà ấm áp của các nhân vật phụ nữ và trẻ em. Ông là bậc thầy trong việc sử dụng ánh sáng diễn tả niềm vui và lòng nhân hậu. Vẻ ngọt ngào trong tranh của ông không vương chút tầm thường mà là tinh hoa của cái đẹp lành mạnh trong cuộc sống. Tác phẩm tiêu biểu: Giáng sinh, 1529-1530; Leda và thiên nga, khoảng 1531-1532...
Ad Reinhardt (1913-1967) là hoạ sĩ trừu tượng người Mỹ. Ông là người có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nghệ thuật Tối giản và nghệ thuật Ý niệm thông qua sự nghiêm khắc trong cách tiếp cận hội hoạ cũng như lý thuyết. Ông nổi tiếng với những bức hoạ "tối hậu" và những bức hoạ "đen", thoạt nhìn chỉ là những tấm vải vẽ sơn đen nhưng thực ra gồm có màu đen và những sắc thái gần đen. Tác phẩm tiêu biểu: Bố cục đỏ và xanh, 1941; Tranh trừu tượng, Đen, 1960-1966,...
Gustav Klimt (1862-1918) là hoạ sĩ Áo tiên phong của phường phái Art Nouveau (nghệ thuật mới). Ông kết hợp táo bạo các phần tả thực với chi tiết trang trí, dùng nhiều đường cong cũng như hoạ tiết cách điệu từ nhiều nền văn hoá: Ai Cập, Trung Quốc, Nhật Bản...để diễn tả dòng chảy sôi nổi của cuộc sống. Nghệ thuật của ông giàu chất trang trí và tượng trưng. Tác phẩm tiêu biểu: Pallas Athena, 1898; Chân dung Emilie Floge, 1902; Nụ hôn, 1907-08; Cuộc sống và cái chết 1908-16....
Francis Picabia (1879-1953) là hoạ sĩ Pháp. Ban đầu ông theo xu hướng ấn tượng trước khi sáng tác những bức tranh trừu tượng theo phong cách Lập thể và tham gia khởi đầu phong trào Dada với tạp chí 391. Sau đó, ông vẽ những bức tranh với các hoạ tiết chồng, được gọi là "những bức tranh trong suốt", và cuối đời lại quay về với phong cách Trừu tượng. Tác phẩm tiêu biểu: Mờ sáng,1901; Thành phố New York nhìn qua cơ thể, 1931; Đứa trẻ chất đốt, 1919...
Ben Nicholson (1894-1982) là họa sĩ trừu tượng người Anh. Ban đầu ông chịu ảnh hưởng của Cézanne và trường phái Lập thể, sau này chuyển sang phong cách Trừu tượng. Tính độc đáo trong tranh của ông là các dạng hình học nhạy cảm và hài hòa ở mức trừu tượng tối đa, vừa mơ hồ vừa biểu hiện, cảnh quan và tĩnh vật trong tranh vẫn có thể nhận ra được mặc dù đã được cách điệu hóa rất mạnh. Tác phẩm tiêu biểu: Chelsea, 1924; Guitar,1933; Tĩnh vật, 1945...